Chủ Nhật, ngày 31 tháng 1 năm 2010

CÁCH KÊ GIƯỜNG NGỦ THEO PHONG THUỶ

PGs Mộc Thiên

Phòng ngủ và sự sắp xếp đồ đạc trong phòng ngủ hết sức quan trọng trong đời sống cá nhân của chủ nhà và giữ vai trò chủ yếu trong việc tái sản xuất sức lao động của người ta. Thày phong thuỷ lại cho rằng bố trí đồ đạc như giường bàn trong phòng ngủ còn ảnh hưởng đến sự thành công và sức khoẻ của người sống trong phòng.

Vị trí kê đồ đạc trong phòng ngủ phải đảm bảo cho tiện nghi sinh hoạt, vệ sinh về không khí, ánh sáng, yên tâm về an toàn cho sức khoẻ cũng như an ninh cuộc sống. Vị trí ngủ đủ kín đáo và an toàn, tạo ra tâm lý yên tâm khi ngủ.

Vị trí kê giường còn phải đảm bảo những yếu tố về vật lý và các yếu tố về phong thuỷ nữa.

Chúng ta đều biết, dòng từ của trái đất tại mặt vỏ sẽ chuyển từ Bắc cực xuống Nam cực. Dòng từ của con người đi từ đỉnh đầu toả ra chung quanh rồi chuyển tụ xuống phía chân. Cần bố trí chỗ ngủ sao cho dòng từ của trái đất không mâu thuẫn với dòng từ của con người. Như thế, để tạo vị trí nằm phù hợp có thể có các phương án là chân quay về phía Bắc, đầu nằm phía Nam. Cũng có thể nằm ngang dòng từ là đầu quay về hướng Đông, chân hướng Tây hay ngược lại, đầu theo hướng Tây, chân hướng Đông. Trái với các hướng đó gây ra mâu thuẫn giữa dòng từ của trái đất với dòng từ của con người. Ngoài ra, cơ thể con người cũng phân định âm dương. Lấy trục đối xứng của người từ đầu xuống chân theo hướng mặt chia người thành hai nửa thì nửa phải thuộc dương, nửa trái thuộc âm. Trước mặt thuộc dương, sau lưng thuộc âm.

Ta thấy giường nằm của người Trung Hoa cổ có ba mặt che kín mà chỉ có lối vào nằm là hở. Thường người nằm quay mặt hướng ra phía hở này. Nhiều nhà sinh lý học khuyên tư thế nằm nên hơi nghiêng mà tay phải phía dưới để trái tim ở trên cho tim không bị đè nặng khi ngủ.

Phong thuỷ cầu kỳ hơn nhiều. Phong thuỷ khuyên rằng , khi nằm, mặt nhìn về hướng tốt. Hướng tốt phải theo cách tính tuổi và mệnh của người chủ để chọn. Mệnh được phân bổ theo ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Lấy chu kỳ là 60 năm mà phân chia thì cứ hai năm chung một mệnh, như vậy có 30 mệnh cả thảy. Như mệnh kimbạch lạp kim, sa trung kim, kim bạch kim, xoa xuyến kim, hải trung kim, kiếm phong kim. Cũng như vậy, có 6 dạng mệnh thuỷtuyền trung thuỷ, trường lưu thuỷ, thiên hà thuỷ, đại khê thuỷ, đại hải thuỷ, giáng hạ thuỷ. Có 6 dạng mệnh hoảtích lịch hoả, sơn hạ hoả, phúc đăng hoả, thiên thượng hoả, lư trung hoả, sơn đầu hoả. 6 dạng mệnh mộcdương liễu mộc, tòng bá mộc, bình địa mộc, tang đố mộc, thạch lựu mộc, đại lâm mộc. Có 6 dạng mệnh thổốc thượng thổ, bích thượng thổ, sa trung thổ, lộ bàng thổ, thành đầu thổ, đại trạch thổ. Khi biết mệnh của một người, tuỳ theo nam hay nữ mà biết cung của họ. Cung bao gồm trong 8 hướng phương vị : Bắc là Khảm, Đông Bắc là Cấn, Đông là Chấn, Đông Nam là Tốn, Nam là Ly, Tây Nam là Khôn, Tây là Đoài, Tây Bắc là Càn. Mỗi hướng ứng với một ngôi sao được phân chia tốt xấu như sau: Sinh khí thuộc sao Tham lang ( rất tốt), Ngũ quỷ thuộc sao Liêm trinh ( xấu ), Phúc đức thuộc sao Vũ khúc ( tốt), Lục sát thuộc sao Lộc tốn ( xấu), Hoạ hại thuộc sao Lộc tốn ( xấu), Thiên y thuộc sao Cự môn ( rất tốt), Tuyệt mạng thuộc sao Phá quân ( rất xấu), Phục vị thuộc sao Tả phù (tốt). Tám hướng này chia thành đông tứ trạch có khảm, chấn, tốn, ly và tây tứ trạch có càn, đoài, khôn, cấn.

Phối hợp mệnh cung với hướng nhà ( mệnh vào hướng ) như sau:

Đạt được sinh khí ( rất tốt ) với các tổ hợp càn với đoài, khảm với tốn, cấn với khôn chấn với ly. Nghĩa là những người có mệnh càn thì phương tạo ra sinh khí là đoài, mệnh khảm thì phương sinh khí là tốn , mệnh cấn có phương sinh khí là khôn và mệnh chấn có phương sinh khí là ly.

Bắc


Tây Bắc Khảm Đông Bắc

Tây Đông

Tây Nam Đông Nam

Nam

Bắc


Tây Bắc Khảm Đông Bắc

Tây Đông

Tây Nam Đông Nam

Nam

Phương vị để xét hướng Thí dụ phối hợp mệnh cung và hướng

Phạm vào Ngũ quỷ ( xấu ) là do tổ hợp mệnh cung với hướng: càn với chấn, khảm với cấn, ly với đoài, khôn với tốn.

Đạt được Phúc đức ( tốt) khi tổ hợp mệnh cung với hướng : càn với khôn, khảm với ly, cấn với đoài, chấn với tốn.

Phạm vào Lục sát ( xấu ) là do tổ hợp mệnh cung với hướng : càn với khảm, cấn với chấn, tốn với đoài, ly với khôn.

Phạm vào Hoạ hại ( xấu ) do tổ hợp mệnh cung với hướng: càn với tốn, khảm với đoài, cấn với ly, chấn với khôn.

Đạt được Thiên y ( rất tốt ) nếu tổ hợp mệnh cung với hướng: càn với cấn, khảm với chấn, tốn với ly, khôn với đoài.

Phạm vào Tuyệt mạng ( rất xấu ) khi tổ hợp mệnh cung với hướng: càn với ly, khảm với khôn, cấn với tốn, chấn với đoài.

Đạt được Phục vị ( tốt ) khi tổ hợp mệnh cung với các trùng hướng: càn với càn, khảm với khảm, cấn với cấn, chấn với chấn, tốn với tốn, ly với ly, không với khôn, đoài với đoài.

Mệnh cung có thể tra trong bảng sau:

Năm sinh

Mệnh cung

Mệnh niên

Dương

Âm

Nam

Nữ

1924

Giáp tý

Tốn

Khôn

Hải trung kim

1925

Ât sửu

Chấn

Chấn

Hải trung kim

1926

Bính dần

Khôn

Tốn

Lư trung hoả

1927

Đinh mão

Khảm

Cấn

Lư trung hoả

1928

Mậu thìn

Ly

Càn

Đại lâm mộc

1929

Kỷ tỵ

Cấn

Đoài

Đại lâm mộc

1930

Canh ngọ

Đoài

Cấn

Lộ bàng thổ

1931

Tân mùi

Càn

Ly

Lộ bàng thổ

1932

Nhâm thân

Khôn

Khảm

Kiếm phong kim

1933

Quí dậu

Tốn

Khôn

Kiếm phong kim

1934

Giáp tuất

Chấn

Chấn

Sơn đầu hoả

1935

Ât hợi

Khôn

Tốn

Sơn đầu hoả

1936

Bính tý

Khảm

Cấn

Giáng hạ thuỷ

1937

Định sửu

Ly

Càn

Giáng hạ thuỷ

1938

Mậu dần

Cấn

Đoài

Thành đầu thổ

1939

Kỷ mão

Đoài

Cấn

Thành đầu thổ

1940

Canh thìn

Càn

Ly

Bạch lạp kim

1041

Tân tỵ

Khôn

Khảm

Bạch lạp kim

1942

Nhâm ngọ

Tốn

Khôn

Dương liễu mộc

1943

Quí mùi

Chấn

Chấn

Dương liễu mộc

1944

Giáp thân

Khôn

Tốn

Tuyền trung thuỷ

1945

Ât dậu

Khảm

Cấn

Tuyền trung thuỷ

1946

Bính tuất

Ly

Càn

Ôc thượng thổ

1947

Đinh hợi

Cấn

Đoài

Ôc thượng thổ

1948

Mậu tý

Đoài

Cấn

Tích lịch hoả

1949

Kỷ sửu

Càn

Ly

Tích lịch hoả

1950

Canh dần

Khôn

Khảm

Tòng bá mộc

1951

Tân mão

Tốn

Khôn

Tòng bá mộc

1952

Nhâm thìn

Chấn

Chấn

Trường lưu thuỷ

1953

Quí tỵ

Khôn

Tốn

Trường lưu thuỷ

1954

Giáp ngọ

Khảm

Cấn

Sa trung kim

1955

Ât mùi

Ly

Càn

Sa trung kim

1956

Bính thân

Cấn

Đoài

Sơn hạ hoả

1957

Đinh dậu

Đoài

Cấn

Sơn hạ hoả

1958

Mậu tuất

Càn

Ly

Bình địa mộc

1959

Kỷ hợi

Khôn

Khảm

Bình địa mộc

1960

Canh tý

Tốn

Khôn

Bích thượng thổ

1961

Tân sửu

Chấn

Chấn

Bích thượng thổ

1962

Nhâm dần

Khôn

Tốn

Kim bạch kim

1963

Quí mão

Khảm ly

Cấn

Kim bạch kim

1964

Giáp thìn

Ly

Càn

Phúc đăng hoả

1965

Ât tỵ

Cấn

Đoài

Phúc đăng hoả

1966

Bính ngọ

Đoài

Cấn

Thiên hà thuỷ

1967

Đinh Mùi

Kiền

Ly

Thiên hà thuỷ

1968

Mậu Thân

Khôn

Khảm

Đại Trạch thổ

1969

Kỷ Dậu

Tốn

Khôn

Đại trạch thổ

1970

Canh Tuất

Chấn

Chấn

Xoa Xuyến Kim

1971

Tân Hợi

Khôn

Tốn

Xoa xuyến kim

1972

Nhâm tý

Khảm

Cấn

Tang đố mộc

1973

Quý sửu

Ly

Kiền

Tang đố mộc

1974

Giáp Dần

Cấn

Đoài

Đại khê thuỷ

1975

Ât Mão

Đoài

Cấn

Đại Khê thuỷ

1976

Bính Thìn

Sa trung Thổ

Kiền

Ly

1977

Đinh Tỵ

Sa trung Thổ

Khôn

Khảm

1978

Mậu Ngọ

Thiên Thượng Hoả

Tốn

Khôn

1979

Kỷ Mùi

như trên

Chấn

Chấn

1980

Canh Thân

Thạch lựu Mộc

Khôn

Tốn

1981

Tân Dậu

nt

Khảm

Cấn

Lấy một thí dụ cách kiểm tra hướng kê giường. Bạn 36 tuổi dương lịch, sinh năm 1964 tức năm Giáp thìn. Bạn là trai, cung mệnh sẽ là Ly, mệnh niên là Phúc đăng hoả. Cung Ly thuộc tây tứ trạch bao gồm càn, đoài, khôn, chấn. Nếu kê giường có hướng mắt nhìn về các cung sau đây thì tốt : khảm, chấn, tốn, ly, đoài . Kê giường nhìn về hướng cấn, khôn, càn thì xấu.

Người đẻ năm 1958 là năm Mậu tuất, mệnh càn. Càn thuộc tây tứ trạch nên hợp với càn , đoài, khôn, cấn . Mệnh càn này xung với các cung khảm, chấn, tốn, ly. Như vậy người chủ nhà này kê giường sao cho khi nằm , mặt quay về phía Tây Bắc là tốt nhất, còn có thể quay về các hướng Tây, Tây Nam và Đông Bắc. Kê giường để khi nằm nhìn theo hướng Bắc, Đông, Đông Nam và Nam bị hướng xấu.

Phong thuỷ rất kiêng kê đầu giường sát cửa sổ và ít khi kê chân giường sát của đi. Nên kê đầu giường sát tường để tạo sự tin cậy an toàn. Nhiều nhà thường kê một cạnh giường sát tường mà chỉ để một lối lên giường. Kê thế này, người nằm phía trong ra khỏi giường phải bước qua người nằm ngoài, không tiện dụng. Tốt nhất là có thể lên xuống giường theo cả hai cạnh. Kê như thế không còn khái niệm người nằm trong, người nằm ngoài nữa.

Sau đây là thí dụ của ba cách kê giường tốt theo quan điểm phong thuỷ.

Bốn hình sau đây minh hoạ cách kê giường không theo phong thuỷ và chịu nhiều ảnh hưởng không tốt cho sự ngủ trong phòng.

Thực ra sự bố trí giường ngủ còn phụ thuộc tổng diện tích sử dụng đang có. Nhà quá chật chội thì làm sao nhét đủ số chỗ nằm, còn tốt xấu theo phong thuỷ là điều bàn sau./.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
© 1999 – 2009 Google - Xem Blog tốt nhất với trình duyệt FireFoxOpera
Based on Scribe Template - Deluxe | Designer : Tô Minh Trường
Y!M : longschool_77 | Mail : longschool_77@yahoo.com.vn
Thông tin trong trang Visuckhoe.blogspot.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chẩn đoán cho mình. Nên tham khảo ý kiến bác sĩ trực tiếp về từng trường hợp cụ thể.